Khu di tích lịch sử Tân Trào

Khu di tích lịch sử Tân Trào nằm trong một thung lũng nhỏ thuộc huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, cách Thành phố Tuyên Quang khoảng 41 km, cách Hà Nội khoảng 150 km, với diện tích khoảng 6.633 ha.

Tân Trào là khu di tích lịch sử của cách mạng Việt Nam thời kỳ Cách mạng tháng Tám. Hiện nay, nơi đây đã được thủ tướng chính phủ Việt Nam đưa vào danh sách xếp hạng 23 di tích quốc gia đặc biệt. Tân Trào là thủ đô lâm thời của khu giải phóng, nơi Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành hội nghị toàn quốc ngày 13 tháng 8 năm 1945 để quyết định tổng khởi nghĩa. Ðại hội quốc dân đã họp tại đây ngày 16 tháng 8 năm 1945, thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh bầu ra một chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm chủ tịch và quân giải phóng Việt Nam làm lễ ra quân.
Chiến khu Tân trào ghi đậm dấu ấn của cách mạng Việt Nam và ngày nay đây là một địa chỉ du lịch thu hút nhiều du khách.
Cây đa Tân Trào cách đình Tân Trào khoảng 500 mét về phía Đông. Dưới bóng cây đa này, chiều 16 tháng 8 năm 1945, Việt Nam Giải phóng quân đã làm lễ xuất quân trước sự chứng kiến của nhân dân Tân Trào và 60 đại biểu. Võ Nguyên Giáp đọc bản Quân lệnh số 1 và ngay sau đó hành quân về giải phóng Hà Nội.
Cây đa Tân Trào
Đình Tân Trào là một đình nhỏ được xây dựng vào năm 1923 theo kiểu nhà sàn, cột gỗ, ba gian hai chái, mái lợp lá cọ, sàn lát ván, để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng và là nơi hội họp, sinh hoạt văn hoá của dân làng. Đình thờ 8 vị thành hoàng làng đại diện cho các thần sông, thần núi của làng Tân Lập, xã Tân Trào. Dưới mái đình này, ngày 16 tháng 8 năm 1945 đã họp Quốc dân Đại hội để quyết định lệnh tổng khởi nghĩa, 10 chính sách lớn quy định quốc kỳ,quốc ca và cử ra một chính phủ lâm thời.
Đình Tân Trào
Đình Hồng Thái cách đình Tân Trào gần 1 km trên đường đi Sơn Dương, đình được xây dựng tại địa phận của làng Cả, xã Tân Trào. Năm 1919, đình có tên là đình Làng Cả hay đình Kim Trận. Đình Hồng Thái còn là trạm giao liên và là nơi huấn luyện quân sự trong suốt thời kỳ kháng chiến. Đình còn là điểm dừng chân của các đại biểu toàn quốc về dự Quốc dân Đại hội], là trạm thường trực của "An toàn khu của Trung ương đóng ở Tân Trào".
 
Đình Hồng Thái
Lán Nà Lừa đây là một căn lán nhỏ, nằm ở sườn núi Nà Lừa, cách làng Tân Lập gần 1 km về hướng đông, lán được dựng bằng tre theo kiểu nửa sàn, nửa đất của người miền núi, dưới các đám cây rậm rạp. Lán do đơn vị giải phóng quân dựng để Hồ Chí Minh ở và làm việc từ tháng 6 năm 1945 đến cuối tháng 8 năm 1945. Lán Nà Lừa có hai gian nhỏ, gian bên trong là nơi Hồ Chí Minh nghỉ ngơi, còn gian ngoài là chỗ Hồ Chí Minh làm việc và tiếp khách. Tại đây, ngày 4 tháng 6 năm 1945, Hồ Chí Minh đã triệu tập Hội nghị cán bộ để củng cố căn cứ địa cách mạng, thành lập khu giải phóng và Quân giải phóng, chuẩn bị Hội nghị toàn quốc của Đảng và Quốc dân Đại hội.
Lán Nà Lừa

Đến Tân Trào du khách cũng có thể tham quan các di tích có giá trị như: Bản Khuổi Kịch, đình Thanh La, Vực Thia, làng Tân Lập, lán Cảnh Vệ - Điện Đài, lán Đồng Minh, sân bay Lũng Cò, đèo Chắn, Đồng Man - Lũng Tẩu, Khấu Lẩu - Vực Hồ, Ban Tuyên huấn Trung ương, hang Thia, hang Bòng, thôn Lập Binh, xã Trung Yên, hầm An toàn của Bác, hầm Trung ương Đảng, hầm Chính phủ và Bảo tàng Tân Trào.

Nguồn: Sưu tầm
( Hội đồng hương Trường THPT Kim Xuyên)

Chiều lòng “dân làng”, Trần Đăng Khoa viết về Tướng Giáp

VOV - Cái chuyện “Xông đất” vị tướng huyền thoại diễn ra cách đây cũng đã lâu lâu rồi. Tôi ngỡ nó đã được lưu giữ và đã ngủ yên trong bảo tàng “Cõi nhớ” của cá nhân tôi. Nhưng rồi Bạn đọc khả kính của VOV đã “đánh thức” nó dậy.


Tôi rất bất ngờ, không hiểu sao VOVonline đã kiếm đâu được bức ảnh của tôi chụp với Tướng Giáp và công bố trên tờ báo đang rất đông người đọc này. Và càng bất ngờ hơn nữa là những lời bình, nói đúng ra là những bài viết bổ sung cho những gì còn khiếm khuyết trong các bài viết của tôi của đông đảo độc giả. Nhiều bài viết vô cùng sâu sắc, hay hơn gấp nhiều lần những bài viết của tôi. Trong lễ ra mắt “Chuyên mục”, trong một comment, tôi có nói, nói rất thành tâm chứ không phải õng ẹo làm mẽ, rằng, Khoa chỉ làm công việc của Mẹ Đốp Mõ Làng, là trải cái chiếu quê ra giữa sân đình VOV, để kính cẩn mời các cụ ra ngự rồi bàn chuyện.
Tôi cũng không ngờ “Các cụ” đến rất đông. Có cụ đã 52 tuổi Đảng, có cụ phừng phừng sức lực thanh tân. Có cụ còn “xưng cháu” với gã mõ làng làm công việc trải chiếu. Nhiều cụ muốn biết chuyện xông đất nhà vị tướng Huyền thoại. Bởi thế, câu chuyện năm xưa mới lại có mặt trên cái chiếu quê Blog Tòa soạn này.
Nhà thơ Đaghextan nổi tiếng thế giới Raxun Gamzatov thật có lý và cũng thật sâu sắc khi ông cho rằng, khi anh đi ra thế giới rộng lớn, người ta muốn biết anh là người thế nào, thì anh có thể chìa chứng minh thư, chìa tấm hộ chiếu ra, trong đó đã ghi mọi điều cần thiết. Còn nếu khi có ai hỏi một dân tộc, xem dân tộc đó thế nào, thì dân tộc đó cũng cần phải đưa ra "giấy tờ" của mình, là các nhà bác học, các nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, hoạ sĩ, nhà hoạt động chính trị kiệt xuất hay các vị tướng lĩnh tài giỏi. Họ chính là “giấy thông hành” để dân tộc đó đi ra với thế giới rộng lớn.
Có lẽ cũng vì thế chăng, mà có lần tham gia trong đoàn Việt Nam dự Festival thanh niên thế giới, tôi rất ngạc nhiên khi phái đoàn của ta vừa xuất hiện thì cả cầu trường vang dội những tiếng hô nồng nhiệt của cả một biển người trên hành tinh: "Hồ Chí Minh - Giáp Giáp! Hồ Chí Minh - Giáp Giáp!" Hồ Chí Minh thì đã rõ rồi. Bác là vị lãnh tụ lỗi lạc, là danh nhân văn hoá thế giới. Thế còn Giáp Giáp là gì? Tiếng Tây chăng? Tôi lần hỏi mới hay, họ đã hô vang tên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đối với thế giới, cái tên quen thuộc ấy đồng nghĩa với Việt Nam, nên không cần phải phiên dịch, diễn giải. Cùng với Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh, vị tướng huyền thoại ấy, cũng đã trở thành cái giấy thông hành để dân tộc ta có thể hiên ngang đi vào cõi mênh mông bát ngát của xứ người.
Bây giờ thì vị tướng huyền thoại ấy đang ngồi trước mặt tôi. Một ông già hiền lành, đôn hậu. Nước da đỏ au, mái tóc bạc trắng như mây. Trông ông có dáng dấp của một ông Tiên trong những câu chuyện cổ tích dành cho con trẻ.
- Nhân dịp năm mới, tôi xin chúc Đại tướng khoẻ mạnh, hạnh phúc. Cầu mong Đại tướng luôn gặp những chuyện tốt lành.
- Mình cám ơn thiện tâm của các cậu!
Còn nhớ cách đây đã hơn chục năm, tôi cùng nhà văn Lê Lựu và nhóm phóng viên Tạp chí Văn nghệ quân đội đến  gặp Đại tướng, và viết bài “Hỏi chuyện anh Văn” nhân kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng Điện Biên Phủ, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Bài viết in trên Tạp chí Văn nghệ quân đội đầu tháng 5 năm 1994. Trung tuần tháng đó, tôi có dịp sang thăm Mỹ theo lời mời của của các nhà văn cựu chiến binh Mỹ. Nhà thơ nổi tiếng Mỹ Bruce Weigl cười tủm tỉm: "Tôi có xem bài viết của ông với ông Lựu trong thư viện của Trường đại học Harvard, cũng xem cả bức ảnh ông và ông Lựu chụp chung với tướng Giáp. Trong ảnh, tôi thấy tướng Giáp là người trẻ trung nhất, sau đó mới đến ông Lựu, còn người già nua nhất thì lại là... ông"
Đại tướng Võ Nguyên Giáp cười hiền hậu:
- Họ đùa đấy!  Dân nước ngoài họ rất hay đùa. Sự thật thì mình đâu còn trẻ mà cậu thì cũng đâu đã già!
- Vâng, tôi cũng biết là họ đùa, nhưng trong câu nói đùa ấy cũng hàm chứa ít nhiều sự thật, là cụ rất được yêu mến. Dân mình, lính mình yêu cụ đã đành, nhưng ngay cả những kẻ thù từng bị cụ đánh bại cũng rất kính phục cụ. Được kẻ thù của mình kính phục và trọng nể, kể cũng không phải dễ.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp dường như không để ý đến câu nói ấy. Ông chỉ tủm tỉm cười. Nụ cười thật hiền hậu. So với lần gặp trước cách đây chừng chục năm, tôi thấy Đại tướng chẳng có gì thay đổi, mặc dù ông cũng đã qua cái tuổi cổ lai hy từ rất lâu rồi. Dường như Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ra để chống lại tạo hoá. Sự già nua không đánh được vào ông. Một ánh mắt tinh nhạy, trẻ trung, một trí tuệ rất minh mẫn. Nhân ngày đầu xuân, tôi hỏi ông có bí quyết gì mà có được sức lực dẻo dai như thế? Ông cười hiền lành:
- Mình chẳng có bí quyết gì đâu. Chỉ chịu khó tập thể dục, sống thanh thản và không vẩn vơ nghĩ về cá nhân.
Theo cô con gái rượu của ông, giáo sư - tiến sĩ vật lý Võ Hồng Anh, thì hàng ngày, Đại tướng sống rất điều độ. Buổi sáng ông dậy sớm tập thể dục, rồi đi bách bộ quanh khu vườn. Bảy rưỡi ăn điểm tâm. Mỗi bữa thường chỉ có một bát xúp nhỏ, một lát bánh mì. Buổi trưa ông ăn rất ít. Tối cũng vậy, chỉ thêm bát xúp ngô với một ít rau tươi. Còn cơm, ông ăn không đầy một bát. Nhưng ngày nào ông cũng làm việc. Công việc vẫn bề bộn. Bắt đầu từ tám giờ sáng. Ông tiếp khách trong nước, quốc tế, hoặc dự hội thảo, thăm nơi này, nơi kia, theo kế hoạch mà đồng chí thư ký đã chuẩn bị từ trước. Rỗi thì ông đọc sách. Ông đọc khá nhiều. Đủ các loại sách. Sách quân sự. Sách khoa học. Sách danh nhân. Rồi tiểu thuyết. Rồi thơ. Rồi lý luận phê bình.
Đại tướng tặng tôi mấy cuốn sách, và cả những bài báo rất hay viết về khoa học, kinh tế mà ông thấy tâm đắc, ông phôtô tặng tôi. Tôi thực sự ngạc nhiên vì thấy ông đọc rất nhiều. Tôi hiểu vì sao ông có được sự minh mẫn đến thế. Trí tuệ loài người nằm hết trong sách. Không phải ngẫu nhiên, khi cô con gái rượu của Các Mác hỏi bố: “Công việc gì mà ba yêu thích nhất”.  Mác đã trả lời: “Lục lọi ở trong sách.”
- Vừa rồi tôi có đọc cuốn hồi ký của anh Trà. Anh ấy có viết về tôi. Trong đó có một câu làm tôi rất xúc động: Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người tiếc đến từng giọt máu của lính. Anh ấy là người rất hiểu tôi...
Nói rồi, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ngồi lặng. Gương mặt thâm thấm một nỗi gì hiu hắt. Trông ông như một đỉnh núi vừa tắt nắng. Hình như ông đang nhớ lại một thời oanh liệt đã qua. Trong trận Điện Biên Phủ, ông là Đại tướng Tổng tư lệnh, nhưng nắm chắc đến từng đại đội một. Nghĩa là ngay một anh đại đội trưởng dưới cơ sở cũng có thể báo cáo thẳng cho Tổng tư lệnh về đơn vị của mình, kể cả những con số hy sinh và thương vong. 
Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người rất thận trọng. Vào trận, bao giờ ông cũng nắm rất chắc địa hình, tính toán thật chi li, cụ thể. Bộ đội hành quân, tập kết trận địa, nếu trong đội hình tiểu đoàn,  hoặc đội hình trung đoàn, có trang bị từng loại vũ khí cụ thể thì đi hết bao lâu. Trận đánh diễn ra bao nhiêu phút, rồi sau đó anh em rút ra như thế nào cho thật an toàn trước khi máy bay địch ập đến. Chỉ khi nào Đại tướng tính toán kỹ lưỡng, tìm được cách rút lui sau trận đánh, để bảo toàn tính mạng cho từng người lính rồi, ông mới ra lệnh tấn công.
Thật bất ngờ khi một vị tướng huyền thoại, “bách chiến, bách thắng”, mà khi vào trận, ông lại quan tâm trước nhất là chuyện “rút lui”. Bí kíp dành thắng lợi của ông là thế chăng? Và ta cũng lại bất ngờ nữa khi biết, có trận thắng vang dội, người ta vỗ tay rầm trời, còn Đại tướng thì lặng lẽ khóc ở sở chỉ huy, vì mất nhiều lính quá. Nhiều khi cứ úp mặt xuống phên tre mà khóc. Nước mắt đầm đìa cả cái gối mây. Nhưng điều ấy thì không phải ai cũng biết được. Tôi chợt nhớ đến hồi Mậu Thân, nhớ đến câu thơ Hữu Thỉnh:
“Có trận đánh trở về/
Nhìn đống súng thừa như nhìn thừa đũa bát/
Thừa đến nỗi những người sống sót/
Cũng không nỡ nhận mình là may/
Hồi Mậu Thân toan tính biết bao điều...”
Có lẽ cũng vì thế mà Thiếu tuớng Nguyễn Chuông, Tư lệnh Quân đoàn 29, một trong những người lính quả cảm của tướng Giáp, khi về hưu, được quân đội chia cho ít đất để làm nhà, ông đã dành một khoảng đất để xây một cái miếu ngay ở trước cửa nhà để ông thờ lính. “Các em đã lặn lội theo anh vào sinh ra tử bao nhiêu năm nay, không may phải nằm lại dọc đường, bố mẹ già khuất núi rồi, vợ con lại chưa kịp có thì biết lấy ai hương khói trong những ngày tết nhất hay ngày rằm, mồng một. Anh may mà thoát chết, vừa được quân đội cho tý đất đây, anh lập cái am này để các em về đây quây quần với anh”. Rồi ông dặn dò con cháu, nếu không may ông có phải ra đi thì những ngày Tết hay ngày rằm, mồng một, hoặc ngày 27-7, chúng nhớ thay ông thắp hương cho những người lính của ông đã, rồi sau đó mới thắp cho ông.
Có lẽ cũng vì thế chăng mà khi tôi có nhã ý muốn được đọc một cuốn hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết về chính mình thì ông đã từ chối. Thực tình thì ông cũng đã viết hoặc kể cho người khác viết. Nhưng đó là những trang hồi ký về Bác, về Đảng, về cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân. Đó là một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc, là chuyện của lãnh tụ, của đồng bào chiến sĩ, là toàn bộ cuộc chiến tranh cách mạng được nhìn qua con mắt của một vị tướng. Còn thực sự vị danh tướng ấy thế nào, số phận ra sao, thì cho đến nay, vẫn chẳng có mấy ai biết.
- Đời mình có gì đâu mà viết. So với Bác Hồ, với đồng bào, chiến sĩ, mình chỉ là một giọt nước rất nhỏ giữa đại dương mênh mông...
Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói vậy. Ông vốn là một người rất đỗi khiêm nhường. Ông mong gì ư? Nếu có sức lực và có điều kiện, ông muốn được trở lại những vùng chiến trường xưa, thăm lại những người dân nghèo đã từng san sẻ với ông nửa củ sắn lùi, đắp chung với ông một cái chăn rách.
Tôi chợt nhớ đến một ông già bản mà tôi gặp trên đường vào Mường Phăng. Ông già hồ hởi:
- Chuyện Đại tướng chứ gì? Đại tướng thì tôi biết. Tôi cũng đã mấy lần gặp Đại tướng rồi. Vùng này là quê của Đại tướng đấy. Năm nọ Đại tướng  có về quê. Đại tướng nói chuyện với đồng bào bằng tiếng dân tộc. Đại tướng là già làng của chúng tôi đấy. Nhà Đại tướng ở chỗ kia kìa...
Nói rồi, ông già chỉ lên núi Mường Phăng. Một dải rừng xanh um giữa mênh mông đồi trọc. Ở Điện Biên và cả mấy vùng lân cận, rừng cơ bản đã bị phá xong. Nửa đêm, tôi còn thấy những dải lửa cháy rừng rực vắt giữa lưng chừng trời. Đồng bào đốt nương đấy. Chẳng còn cách nào ngăn được. Đói thì phải phá rừng. Rừng núi nhiều nơi đã trơ trụi, nhưng Mường Phăng thì vẫn um tùm rậm rạp như rừng nguyên sinh. Tôi đã đi dưới những tầng cây ấy, nghe chim rừng hót ríu ran. Một làn suối âm thanh trong trẻo và mát rượi rót xuống từ lưng chừng trời. Không một rảnh cây nào bị chặt phá hay bị bẻ gẫy. Ở đây, người dân còn đói cơm, thiếu mặc, nhưng họ vẫn nâng niu gìn giữ khu rừng.
Họ tự đặt tên cho khu rừng là “Rừng Đại tướng”. Đấy là ngôi đền thiêng, ngôi đền xanh thiên nhiên mà người dân đã tự lập để thờ ông. Đối với vị tướng trận, đó là hạnh phúc lớn. Một hạnh phúc mà không phải ai cũng có được trong cõi trần này…/.

                                                                                                      Trần Đăng Khoa

Chợ Kim Xuyên: Đầu mối giao thương các xã vùng hạ huyện

Chợ Kim Xuyên, xã Hồng Lạc (Sơn Dương) mỗi tháng họp 6 phiên vào các ngày 3, 8, 13, 18, 23, 28 (âm lịch). Đây là chợ trung tâm của các xã vùng hạ huyện như Đông Thọ, Sầm Dương, Hào Phú, Tam Đa, Lâm Xuyên... Chợ có nhiều hàng hóa phong phú, từ sản phẩm nông sản như gạo, hoa quả... đến mặt hàng phục vụ đời sống sinh hoạt thiết yếu và sản xuất của người dân như: Dao, búa, quang gánh, sảo...

Ông Phạm Văn Bình, Phó Ban quản lý chợ cho biết, qua nhiều lần chuyển địa điểm và được đầu tư nâng cấp, hiện nay chợ nằm trên địa phận thôn Kim Xuyên, xã Hồng Lạc (Sơn Dương), với diện tích mặt bằng trên 3.000 m2. Chợ có gần 120 gian hàng có mái che bằng tôn, phiprôximăng và lá cọ, phân thành các khu bán quần áo, thực phẩm, hàng khô, tạp hóa, vàng mã… Trước kia, chợ chỉ có vài lán nứa tạm làm nơi trao đổi mặt hàng nông sản của nông dân trong và ngoài xã. Khoảng hơn chục năm trở lại đây, đời sống kinh tế của nhân dân được nâng lên, điều kiện sinh hoạt, nhu cầu trao đổi, buôn bán hàng hóa của bà con càng lớn, chợ cũng được mở rộng và hàng hóa cũng theo đó ngày càng phong phú. Mỗi phiên chợ có hàng nghìn tiểu thương khắp các nơi đổ về mua bán. Bà Nguyễn Thị Mùi (74 tuổi), thôn Kim Xuyên (Hồng Lạc - Sơn Dương) chia sẻ: “Tôi đi chợ Kim Xuyên đã quá nửa đời người nhưng chưa khi nào tôi được chứng kiến cảnh nhộn nhịp người mua, bán như hiện nay. Tuy có nhiều gian hàng nhưng các loại hàng hóa được bày bán phân thành các khu riêng, rất quy củ nên người mua dễ dàng chọn mua sản phẩm mình cần. Chị Bùi Thị Mãn, một tiểu thương xã Hào Phú (Sơn Dương) bán tạp hóa tổng hợp cho biết, trung bình mỗi phiên chợ chị thu được khoảng 2 triệu đồng tiền hàng. Nhiều hộ đã vươn lên khá giả từ việc buôn bán ở chợ như hộ chị Cao Xuân Tự (bán thịt lợn), Nguyễn Văn Nhật (bán quần áo)…

Chợ Kim Xuyên nằm sát ngay bến đò xã Hồng Lạc, được coi là cửa ngõ giao thương của một số xã vùng hạ huyện Sơn Dương với các xã bên kia sông của hai tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ nên việc vận chuyển hàng hóa bằng đường thủy khá thuận lợi. Tuy gọi là chợ xã nhưng thực chất chợ Kim Xuyên lâu nay đã phục vụ nhu cầu giao lưu, trao đổi hàng hóa của nhân dân khắp các xã dọc ven hai bờ sông Lô của tỉnh Tuyên Quang và hai tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc. Chị Nguyễn Thị Oanh, một tiểu thương xã Lệ Mỹ, huyện Phù Ninh (Phú Thọ) chuyên bán các loại rau ở chợ Kim Xuyên cho biết: “Trước đây, mình chỉ  đi bán tại các chợ trong phiên dọc theo đường quốc lộ. Hai năm nay, ngày chợ Kim Xuyên nào mình cũng dậy từ lúc 5h sáng để kịp giờ sang đò vào chợ bán hàng. So với các chợ phiên khác tôi từng đi thì chợ Kim Xuyên có quy mô lớn hơn, bán đắt hàng hơn”. Không riêng gì chị Oanh, còn rất nhiều các tiểu thương của tỉnh bạn như ở Vĩnh Phúc có chị Lê Thị Nguyên (bán quần áo), chị Nguyễn Lâm Giang (bán hoa quả)… ở Phú Thọ có bà Ngô Thị Thọ (bán sản phẩm mây tre đan), bà Nguyễn Thị  Hồng Trang (bán bánh)… cũng đổ về chợ Kim Xuyên mưu sinh.

Tới đây, khi cầu Kim Xuyên xây dựng xong sẽ giúp cho việc đi lại của nhân dân bằng đường bộ thuận tiện. Chắc chắn chợ Kim Xuyên càng phát huy tốt hơn nữa vai trò là chợ đầu mối giao thương hàng hóa của các xã vùng hạ huyện Sơn Dương với các tiểu thương trong và ngoài tỉnh.
Nguồn TQ ĐT

Cầu Kim Xuyên

Cầu Kim Xuyên là công trình cầu cấp 1, xây dựng vĩnh cửu bằng bê-tông cốt thép và bê-tông cốt thép dự ứng lực với chiều rộng 11 m, chiều dài 638 m, gồm 10 nhịp, tổng mức đầu tư là 296 tỷ đồng từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ. Dự kiến, cầu Kim Xuyên được xây dựng trong 24 tháng và hoàn thành vào năm 2012, kết nối các tuyến quốc lộ (QL) 37, QL2C, QL2 và hệ thống giao thông địa phương tạo nên mạng lưới liên hoàn nối huyện Sơn Dương (Tuyên Quang) với huyện Đoan Hùng (Phú Thọ); tạo thuận lợi trong giao lưu hàng hóa, khai thác tiềm năng thế mạnh tài nguyên thiên nhiên, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng-an ninh vùng chiến khu cách mạng.
Các thành phố lân cận: Thành phố Hà Nội, Thành Phố Hải Phòng, Thành phố Cẩm Phả
Toạ độ:   21°33'32"N   105°16'28"E

Thầy giáo Đỗ Xuân Cầm ( Trường THPT Kim Xuyên) sáng mãi hình ảnh “Anh bộ đội Cụ Hồ”

Thầy giáo Đỗ Xuân Cầm ( Trường THPT Kim Xuyên) sáng mãi hình ảnh “Anh bộ đội Cụ Hồ”

Đỗ Xuân Cầm, một người thầy mẫu mực, tận tâm – một cựu chiến binh hăng say trong công tác luôn xứng đáng với danh hiệu “Anh bộ đội Cụ Hồ”. Xuân này, thầy bước sang tuổi 59 cũng là cái tuổi sắp được Nhà nước cho nghỉ chế độ. Các thế hệ học trò trường THPT Kim Xuyên cùng ôn lại những kỉ niệm về thầy, nhằm tôn vinh những đóng góp vô cùng lớn lao của thầy trong sự nghiệp trồng người trên quê hương cách mạng. (Ảnh: Nguyễn Minh Sáng) Thầy Đỗ Xuân Cầm sinh ra và lớn lên tại xã Sầm Dương, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ đang diễn ra gay go và ác liệt, chàng trai trẻ Đỗ Xuân Cầm đã hăng hái lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Đến với mảnh đất Phú Bình – Bắc Thái, nơi đây đã để lại trong anh lính trẻ nhiều dấu ấn về tinh thần quả cảm của đồng đội. Tại vùng đất ấy, sự khốc liệt của chiến tranh đã ghi dấu trên cơ thể của anh (thương binh hạng 3/4). Sau khi đất nước thống nhất, anh trở về với cuộc sống đời thường. Với lòng quyết tâm, tinh thần và nghị lực phi thường của người lính, anh đỗ vào khoa Hóa trường Đại học Sư phạm Việt Bắc khóa 1975 – 1979. Bốn năm miệt mài trên giảng đường, mặc dù vết thương thường tái phát khi lúc trái gió trở trời khiến sức khỏe suy giảm, nhưng anh đã hoàn thành tốt khóa học để biến ước mơ thành sự thực – trở thành thầy giáo. Sau khi tốt nghiệp, anh nhận công tác tại trường THPT Kim Xuyên. Với lòng quyết tâm, tận tụy với nghề, thầy đã vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Năm 2002, thầy được bổ nhiệm chức vụ Phó Hiệu trưởng nhà trường. Trong cương vị mới, bản chất người lính Cụ Hồ trong thầy càng thể hiện rõ nét. Biết bao thế hệ học trò khôn lớn và trưởng thành được thầy dìu dắt và chỉ bảo. Từng lứa học trò trưởng thành như ghi dấu vào màu tóc bạc hơn theo năm tháng của thầy. Giờ đây, nhiều em đã trở thành đồng nghiệp nối tiếp công việc của thầy. Lời dạy của thầy mà bao thế hệ học trò THPT Kim Xuyên luôn khắc ghi: “Sống luôn phải có trước có sau, biết mình, biết người. Nhiệt tình trong trong việc và sáng tạo trong chuyên môn sẽ giúp các em thành công hơn trong cuộc sống”. Ở trường thầy luôn tận tâm trong chức trách và nhiệm vụ của mình. Trở về với địa phương trong vai trò là một cựu chiến binh, thầy tham gia nhiệt tình các công tác xã hội và luôn được nhân dân tin yêu. Gia đình thầy nhiều năm liền đạt danh hiệu Gia đình văn hóa. Viết về công lao, cũng như ơn dạy dỗ của thầy, xin được mượn lời ca của nhạc sĩ Nguyễn Nhất Huy để nói về điều đó: Dẫu đếm hết sao trời đêm nay, dẫu đếm hết lá mùa thu rơi, nhưng ngàn năm làm sao em đếm hết công ơn người thầy. Trong ba năm vừa qua, thầy luôn là đảng viên đủ tư cách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Bản thân thầy là một tấm gương học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh (ảnh). Nhân dịp Ngày Quốc phòng toàn dân 22 – 12 – 2011, kính chúc thầy sức khỏe, hạnh phúc. Trịnh Thị Hải Lân-Học sinh cũ, giáo viên trường THPT Kim Xuyên.
Sưu tầm: Hội đồng hương trường thpt kim xuyên

Quê hương là " cây mía ngọt " - Trường THPT Kim Xuyên



Sưu tầm : Hội đồng hương trường THPT Kim Xuyên




































































( Hội đồng hương trường THPT Kim Xuyên)